Lịch sử vắn tắt của bánh mì

Tin Tức Song Ngữ Anh – Việt: (OI – 04)

A Very Short History of Bread

Bread is one of the oldest prepared foods, with archaeological evidence suggesting that by 30,000 years ago Homo sapiens in Europe were making a kind of bread. This means that the preparation of bread preceded domesticated plants such as wheat. Starchy plants, such as cattails and ferns, were pounded using stone tools and then the starch paste was spread on a flat rock which was placed over a fire. The paste cooked into a form of flatbread.

Bánh mì là một trong những thực phẩm được chế biến lâu đời nhất, với những bằng chứng khảo cổ cho thấy cách đây 30.000 năm, tộc người Homo ở châu Âu đang làm ra một loại bánh mì. Điều này có nghĩa rằng việc chuẩn bị bánh mì có trước cây trồng được thuần dưỡng như lúa mì. Các loại cây giàu tinh bột, chẳng hạn như cây hương bồ (cây đuôi mèo) và dương xỉ, được nghiền bằng các dụng cụ bằng đá và sau đó tinh bột nhão được trải trên một tảng đá phẳng được đặt trên lửa. Bột nhão được nấu thành hình dạng bánh mì dẹt.

About 10,000 years ago, the world changed. Humans began to domesticate plants rather than simply gathering wild plants. With domestication, grains were used for making bread. In Mesopotamia, barley was the principle grain and several kinds of bread were made from it. Bread was generally flat, coarse, and unleavened. Among the upper classes, bread might be enriched with animal fat, milk, butter, and cheese.

Khoảng 10.000 năm trước, thế giới đã thay đổi. Con người bắt đầu thuần dưỡng thực vật hơn là chỉ đơn giản là hái lượm những thực vật hoang dã. Bằng việc thuần dưỡng, ngũ cốc được sử dụng để làm bánh mì. Ở Mesopotamia, lúa mạch là ngũ cốc chính và một số loại bánh mì được làm từ nó. Bánh mì thường dẹt, thô và không men. Trong các loại cao cấp hơn, bánh mì có thể được làm phong phú với mỡ động vật, sữa, bơ và phô mai.

At some point in time, bread makers began to notice that if they left the bread dough out before cooking, it became naturally leavened by airborne yeasts. This resulted in lighter bread. The Roman author Pliny the Elder (Gaius Plinius Secundus, 23-79 CE) reported that the Gauls and the Iberians used foam which they skimmed from beer in making their bread and this resulted in a bread which was lighter than that in other areas.

Vào một thời điểm nọ, các nhà sản xuất bánh mì bắt đầu nhận thấy rằng nếu họ để bột nhào bánh mì ra trước khi nấu, nó sẽ được lên men tự nhiên bởi các men hiếu khí. Điều này dẫn đến bánh mì nhẹ hơn. Tác giả người La Mã Pliny the Elder (Gaius Plinius Secundus, 23-79 CE) đã báo cáo rằng người Gauls và người Iberia đã sử dụng bọt mà họ gạt lọc lấy từ bia để làm bánh mì và điều này dẫn đến bánh mì ở đây nhẹ hơn so với các khu vực khác.

While beer is an ancient beverage, so is wine. In the parts of the ancient world where people used grapes for making wine, they would also use a paste made of grape juice and flour which would be allowed to ferment or wheat bran which had been steeped in wine. Both of these approaches resulted in a kind of leavened bread. In some parts of the world, the bread makers would set aside part of the dough to be used the next day.

Trong khi bia là một thức uống lâu đời thì rượu vang cũng thế. Trong các vùng của thế giới cổ đại, nơi con người sử dụng nho để làm rượu vang, họ cũng sử dụng bột nhão làm bằng nước ép nho và bột mì được cho lên men hoặc cám lúa mì đã được ngâm trong rượu vang. Cả hai phương pháp này dẫn đến một loại bánh mì lên men. Ở một số nơi trên thế giới, các nhà sản xuất bánh mì sẽ dành một phần bột nhào để sử dụng vào ngày hôm sau.

In ancient Egypt, 5,000 years ago, the staples of life for most people were bread and beer. Among the nobles and priests, at least 40 different kinds of bread were consumed. Some of the bread was made with honey. Construction workers working on the pyramids on the Giza Plateau had a daily ration of ten loaves of bread and two jugs of beer.

Ở Ai Cập cổ đại, cách đây 5.000 năm, nhu yếu phẩm cho cuộc sống đối với hầu hết mọi người là bánh mì và bia. Trong số các nhà quý tộc và linh mục, có ít nhất 40 loại bánh mì khác nhau đã được tiêu thụ. Một số bánh mì được làm bằng mật ong. Công nhân xây dựng làm việc trên các kim tự tháp trên cao nguyên Giza có một khẩu phần ăn hàng ngày gồm mười ổ bánh mì và hai bình bia.

In making bread, the Egyptians would grind emmer wheat by hand. This was done by women who would spend hours each day kneeling down at the grinding stones. The mill was simply a stone trough. The grain was ground by crushing it with a handheld grindstone. This resulted in fine particles of stone being left in the flour which resulted in abrasion of the teeth for those who consumed the bread.

Trong việc làm bánh mì, người Ai Cập sẽ xay lúa mì emmer bằng tay. Điều này đã được thực hiện bởi những người phụ nữ người mà đã tiêu tốn hàng giờ mỗi ngày quỳ xuống đá mài. Nhà máy chỉ đơn giản là một máng đá. Hạt được nghiền bằng cách tán nhuyễn nó bằng đá mài cầm tay. Điều này dẫn đến các hạt đá nhỏ mịn còn sót lại trong bột khiến cho những người tiêu thụ bánh mì bị mài mòn răng.

Some dough left over from the previous day would be mixed in with the new dough which would then be left in warm molds. The bread was then baked in closed ovens. Some of the bread would be flavored with sesame seeds, butter, eggs, and herbs. In the first millennium BCE, the Egyptians began using yeast as a replacement for the sour dough.

Một số bột nhào còn sót lại từ ngày hôm trước sẽ được trộn với bột nhào mới rồi sau đó sẽ được bỏ vào trong những khuôn được giữ ấm. Bánh mì sau đó được nướng trong lò kín. Một số bánh mì được làm tăng thêm hương vị với hạt vừng, bơ, trứng và thảo dược. Trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, thỉnh thoảng người Ai Cập bắt đầu sử dụng men làm chất thay thế cho bột chua.

In ancient Greece, bread, both leavened and unleavened, was made from wheat. Leavening was done using wine yeast as a leavening agent. The bread was baked in a clay oven. Bread was often augmented with cheese or honey. When using barley to make bread, the Greeks would roast the grain first. The result was a heavy, coarse bread. In Europe, the Norse, commonly known as Vikings, made a wholemeal bread from rye and oats. They also made bread from barley.

Ở Hy Lạp cổ đại, bánh mì, cả lên men và không men, được làm từ lúa mì. Việc lên men đã được thực hiện bằng cách sử dụng men rượu như một tác nhân lên men. Bánh mì được nướng trong lò đất sét. Bánh mì thường được tăng thêm vị với pho mát hoặc mật ong. Khi sử dụng lúa mạch để làm bánh mì, người Hy Lạp sẽ nướng ngũ cốc trước. Kết quả là bánh mì nặng và thô. Ở châu Âu, người Bắc Âu, thường được gọi là người Viking, đã làm ra bánh mì nguyên cám từ lúa mạch đen và yến mạch. Họ cũng làm bánh mì từ lúa mạch.

Translated: Tiểu Minh

Source: dailykos.com

Cụm Từ Hay Trong Bài Đọc Song Ngữ Anh – Việt
1. archaeological evidence: những bằng chứng khảo cổ
2. domesticated plants: những cây trồng được thuần dưỡng
3. several kinds of bread: một số loại bánh mì
4. bread makers: các nhà sản xuất bánh mì
5. an ancient beverage: một thức uống lâu đời
6. the staples of life: nhu yếu phẩm cho cuộc sống
7. (to) have a daily ration: có một khẩu phần ăn hàng ngày
8. (to) spend hours each day: tiêu tốn hàng giờ mỗi ngày
9. abrasion of the teeth: sự mài mòn răng
10. the previous day: ngày hôm trước
11. a clay oven: lò đất sét

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.