Sự thật về Lễ Tạ Ơn đầu tiên là gì?

Tin Tức Song Ngữ Anh – Việt: (OI – 08)

What’s the Truth About the First Thanksgiving?

Food, football, and…oppression. That’s what Thanksgiving has come to mean to many Americans. Back in 2007, Seattle public school officials made national news by describing the holiday as a “time of mourning” and a “bitter reminder of 500 years of betrayal.” This new narrative describes the Pilgrims as arrogant oppressors who fled persecution only to become persecutors themselves, depriving Native Americans of their land and their lives. But this is wrong on every count.

Thức ăn, môn bóng bầu dục, và…sự áp bức. Đó là ý nghĩa của Lễ Tạ ơn đối với người Mỹ. Trở lại năm 2007, những viên chức trường công ở Seattle lên bản tin trong nước bằng việc miêu tả ngày lễ như là “thời khắc tiếc thương” và “hoài niệm đắng cay về 500 năm phản trắc.” Câu chuyện mới này mô tả những người Pilgrims như những kẻ áp bức ngạo mạn đã chạy trốn khỏi sự đàn áp để chính họ trở thành những kẻ đàn áp, tước đoạt đất đai và mạng sống của những người Mỹ bản địa. Nhưng chuyện này sai ở mỗi thời điểm buộc tội.

First of all, the Pilgrims didn’t cross the ocean to flee persecution – or even England. They’d been living for over a decade in Holland, Europe’s most tolerant nation, and a haven for religious dissenters. Free from interference by the Church of England, they feared seduction – not persecution, worrying that their children would be corrupted by the materialistic Dutch culture. That’s why they risked their dangerous 1620 voyage to a wilderness continent: not because they were running from oppression, but because they were running toward holiness – fulfilling a fateful mission to build an ideal Christian commonwealth.

Trước nhất, những người Pilgrim đã không vượt biển để chạy trốn sự áp bức – hay thậm chí là nước Anh. Họ đã sinh sống hơn mười năm ở Hà Lan, quốc gia bao dung nhất Âu châu hồi đó, và là nơi trú ẩn của những người chống đối tôn giáo. Tự do khỏi sự can thiệp của Giáo hội Anh, họ lo sợ sự cám dỗ – không phải áp bức, lo lắng rằng con cái họ sẽ bị hư hỏng bởi văn hoá trọng vật chất của Hà Lan. Đó là lý do họ mạo hiểm một chuyến hải trình nguy hiểm năm 1620 đến một lục địa hoang dã: không phải vì họ trốn chạy khỏi sự áp bức, mà là vì họ hướng đến sự linh thiêng – hoàn thành một sứ mệnh là xây dựng một khối cộng đồng Cơ Đốc giáo lý tưởng.

They initially planned to plant this model society on the wild, wolf-infested island known to natives as Manhattan, but winds and tides blew them 250 miles off course, dumping the Mayflower on the frozen coast of Massachusetts. Somehow, the Pilgrims saw their dire situation as a demonstration of providential power -especially after a giant wave picked up the flimsy boat of a scouting party on a stormy December night. The turbulent sea then deposited them safely – miraculously – on a little island within sight of the ideal location for their settlement. It was a deserted Indian village with cleared land, stored supplies of corn, and a reliable source of fresh water. These supposedly cruel conquerors never actually invaded that village.

Ban đầu họ dự định sẽ thiết lập xã hội kiểu mẫu này ở một hòn đảo hoang dã được dân bản địa gọi là Manhattan, nhưng gió và thủy triều đã thổi bay họ đi theo hướng 250 dặm, lật đổ con tàu Mayflower vào bờ biển lạnh giá của Massachusetts. Bằng cách nào đó, những người Pilgrim thấy hoàn cảnh tàn khốc của mình như là một minh chứng cho sức mạnh trời ban – nhất là sau khi một ngọn sóng khổng lồ đã nâng con thuyền mỏng manh của đoàn thám hiểm lên trong một đêm giông tố tháng Mười Hai. Mặt biển hỗn độn sau đó lại đặt họ xuống an toàn – một điều kỳ diệu – trên một hòn đảo nhỏ trong tầm ngắm của vị trí lý tưởng cho nơi cư ngụ của họ. Đó là một ngôi làng da đỏ khô cằn với đất đai thoáng đãng, những kho dự trữ bắp, và một nguồn nước ngọt dùng được. Những người được cho là quân xâm lược tàn bạo chưa bao giờ thực sự xâm chiếm ngôi làng đó.

Instead, they expressed a fervent desire to pay the natives for the dried corn they found, if only they could find someone to pay. But the former inhabitants had perished during three years of plague – probably smallpox –  that immediately preceded the Pilgrims’ arrival. One of the few survivors of that devastation turned up several months later to welcome the English newcomers. Against all odds, he proved to be the single human being on the continent best-suited to help the struggling settlers, since he spoke English and had already embraced Christianity. His name was Squanto, and he had grown up in this very village before a ruthless sea captain kidnapped him as a boy and sold him into slavery in Spain.

Thay vào đó, họ bày tỏ một ý muốn nhiệt thành rằng họ sẽ trả tiền cho người bản xứ số bắp khô họ tìm được từ dân bản xứ, nếu như họ có thể tìm được người để trả. Tuy nhiên những cư dân trước đây đã chết hết trong suốt ba năm bệnh dịch – có lẽ là bệnh đậu mùa – diễn ra ngay lập tức trước khi người Pilgrim đến. Một trong số ít những người sống sót qua cơn khốn khó ấy xảy ra mấy tháng sau đó chào mừng những người Anh mới đến. Chống đối lại một cách mạnh mẽ, ông đã chứng minh rằng ông là người bản xứ duy nhất phù hợp nhất để giúp đỡ những người ngụ cư khốn khổ, vì anh ta biết tiếng Anh và đã đi theo đường lối Cơ Đốc giáo. Ông tên là Squanto, và ông đã lớn lên ở ngay chính ngôi làng này trước khi một gã thuyền trưởng tàn ác bắt cóc ông lúc ông còn bé và bán ông làm nô lệ ở Tây Ban Nha.

After four years, he was freed by kindly monks, then made his way to England, and finally sailed across the Atlantic – only to find his friends and family all wiped out by disease. Over the next few months, Squanto helped the English newcomers plant crops and negotiate a friendly trade agreement with the region’s most important chief – Massasoit. No wonder Pilgrim leader William Bradford called Squanto “a special instrument sent of God for their good.” The celebration later known as “The First Thanksgiving,” actually involved a three-day harvest festival in October, apparently inspired by the Biblical holiday of Sukkot, or The Feast of Tabernacles. Ninety hungry Indian warriors joined the 53 surviving Pilgrims for this occasion (nearly half the colonists had died during the brutal winter).

Bốn năm sau đó, ông được một mục sư tốt bụng trả tự do, sau đó ông tìm đường đến Anh, và cuối cùng băng qua Đại Tây Dương – chỉ để thấy gia đình và bạn bè đã chết hết vì bệnh dịch. Khoảng vài tháng sau đó, Squanto giúp đỡ những người Anh mới đến trồng trọt và đàm phán một thoả ước thương mại thân thiện với tù trưởng quan trọng nhất vùng – Massasoit. Không ngạc nhiên khi thủ lĩnh người Pilgrim William Bradford đã gọi Quanto là “một thiên sứ đặc biệt mà Thượng đế gửi xuống vì lợi ích của họ.” Tiệc ăn mừng mà sau này được biết đến như “Lễ Tạ ơn đầu tiên,” thực ra có mối liên hệ đến dịp lễ hội mùa gặt dài ba ngày vào tháng Mười, dường như được truyền cảm hứng bởi ngày lễ Sukkot trong Kinh Thánh, hay còn gọi là Lễ Tiệc Lều Tạm. Chín mươi chiến binh da đỏ bụng đói đã nhập tiệc với 53 người Pilgrim còn sống trong dịp này (gần nửa những người thực dân đã thiệt mạng trong mùa đông khắc nghiệt).

The Englishmen provided some vegetables, fish, and perhaps wild turkeys, while the natives brought five recently hunted deer as house gifts. The preferred sport on this occasion wasn’t football, but shooting, with settlers and Indians sharing a fierce fascination with guns. Though these hardy Pilgrims loom large in the American imagination, they never built their Plymouth settlement into a major colony. In nearby Boston, the later colony of Massachusetts Bay grew so much faster that it swallowed up the great-grandchildren of the Pilgrims in 1691. But the sense of purpose of the original Pilgrims left a permanent imprint on the national character. They maintained unshakable confidence that God protected them – not to grant special privileges, but to impose special responsibilities. They saw themselves as instruments, not authors, of a mysterious master plan.

Những người Anh cung cấp ít rau quả, cá, và có lẽ gà tây rừng, trong khi dân bản địa đem đến năm con nai rừng mới săn được như quà “cây nhà lá vườn”. Môn thể thao được chuộng trong dịp ấy chưa phải là bóng bầu dục, mà là bắn súng, khi dân ngụ cư da trắng và dân bản địa da đỏ chia sẻ niềm đam mê mãnh liệt với súng. Dù cho những người Pilgrim khỏe mạnh này hiện ra lù lù trong tâm trí người Mỹ bây giờ, họ chưa bao giờ xây dựng khu cư ngụ Plymouth của họ thành một thuộc địa lớn. Ở khu Boston kế cận, khu vực sau này là thuộc địa Massachusetts Bay phát triển quá nhanh đến nỗi nuốt chửng luôn những hậu duệ của người Pilgrim vào năm 1691. Nhưng ý thức về mục đích của những người gốc Pilgrim đã để lại một dấu ấn trường tồn trong bản sắc quốc gia. Họ duy trì sự tự tin không thể lay chuyển mà Thượng đế đã che chở họ – không phải là ban cho họ những lợi thế đặc biệt, mà là giao phó họ những trách nhiệm đặc biệt. Họ nhìn nhận bản thân họ là công cụ, không phải tác giả, của một kế hoạch thần thánh huyền bí.

Today, with our continued blessings so obvious and so overwhelming, the only reason to treat this beloved national holiday as “a time of mourning” is that some foolish Americans actually think that’s a good idea. The Pilgrims knew better: they understood that people of every culture and every era can gain more from gratitude than from guilt.

Ngày nay, với những phúc lành được kế thừa một cách hết sức hiển nhiên và áp đảo, lý do duy nhất để xem ngày lễ quốc gia đáng quý này như “thời khắc tiếc thương” là vì một số những người Mỹ ngu muội thực sự nghĩ rằng đó là ý kiến hay. Những người Pilgrim biết rộng hơn thế: họ hiểu rằng con người thuộc mọi nền văn hoá và mọi thời đại có thể được nhiều hơn từ lòng biết ơn hơn là từ tội lỗi.

Source: prageru.com

Checked: Tiểu Minh

Cụm Từ Hay Trong Bài Đọc Song Ngữ Anh – Việt
1. arrogant oppressors: những kẻ áp bức ngạo mạn
2. (to) cross the ocean to flee persecution: vượt biển để chạy trốn sự áp bức
3. a haven for religious dissenters: nơi trú ẩn của những người chống đối tôn giáo
4. a wilderness continent: một lục địa hoang dã
5. a demonstration of providential power: một minh chứng cho sức mạnh trời ban
6. a reliable source of fresh water: một nguồn nước ngọt dùng được
7. (to) express a fervent desire: bày tỏ một ý muốn nhiệt thành
8. (to) help the struggling settlers: giúp đỡ những người ngụ cư khốn khổ
9. (to) negotiate a friendly trade agreement with: đàm phán một thoả ước thương mại thân thiện với
10. (to) share a fierce fascination with guns: chia sẻ niềm đam mê mãnh liệt với súng
11. (to) maintain unshakable confidence: duy trì sự tự tin không thể lay chuyển

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.